Phước không nằm ở của cải, mà ở nơi tâm biết quay về thiện
nghiệp
Khi mất đi tất cả hãy giữ tâm không loạn, khi tuyệt vọng nhất
hãy khởi nghiệp thiện lành.
Người biết dùng trí
tuệ quán chiếu, thì dù giữa khổ đau cũng thấy được ánh sáng giải thoát.
Tội chướng nhiều đời xin sám hối
Nguyện trừ nghiệp chướng được thanh lương
Dứt hết tham sân cùng si ái
Tâm tình như nguyệt giữa đêm sương.
Một niệm hồi tâm lìa khổ ải
Ngàn đời hướng đạo thoát mê trường
Nguyện nương tam bảo tu hành mãi
Độ khắp quần sinh tới phật đường.
Chinese:
功德之本: 「福不在財,而在心歸善業。失盡之時,心不隨亂;絕望之際,更興善緣。以智慧觀照者,雖處苦海,亦見解脫之光。」
懺悔修行偈:
累世罪障求懺悔 願除業障獲清涼 斷盡貪嗔痴與愛 心如明月映霜宵 念回心離苦海 千生向道出迷途 願依三寶永修行 普度群生入佛堂
Japanese:
功徳の本質: 「福は財にあらず、善業に帰る心にあり。すべてを失う時も心乱さず、絶望の淵にて善き行いを起こせ。智慧を以て観照する者は、苦しみの中にも解脱の光を見ん。」
懺悔修行の偈:
多生の罪障 懺悔し奉らん (Tashō no zaishō sange-shi tatematsuran) 業障を除き 清涼を得んことを
(Gesshō o nozoki seiryō o en koto o) 貪瞋痴愛 悉く断ち切り (Ton-jin-chi-ai kotogotoku
tachikiri) 心
月の如く
霧の中にあり
(Kokoro tsuki no gotoku kiri no naka ni ari) 一念回心 苦海を離れ (Ichinen ekshin kukai o hanare) 万代向道 迷妄を脱す
(Bandai kōdō meimō o dassu) 三宝に帰依し 修行を誓い (Sanbō ni kie-shi shugyō o chikai) 衆生を導き 仏堂に至らん
(Shujō o michibiki butsudō ni itaran)
Korean:
공덕의 본질 (Bản chất của công đức): "복은
재물에
있지
않고,
선업(善業)으로
돌아가는
마음에
있습니다.
모든
것을
잃었을
때
마음을
어지럽히지
말고,
가장
절망적인
순간에
선한
업을
일으키십시오.
지혜로
관조(觀照)하는
자는
고통
속에서도
해탈의
빛을
보게
될
것입니다."
참회와 수행의 게송 :
다겁생의 죄장(罪障)을
참회하오니
업장이 소멸되어 청량함을 얻기
원합니다
탐진치(貪瞋痴)와 애착을 모두 끊어내어
마음은 밤안개 속의 달과 같기를
일념으로 회심하여 고해(苦海)를
벗어나고
천 년을 도(道)를 향해 미망의 길을 벗어나리라
삼보(三寶)에 귀의하여 영원히 수행하며
모든 중생을 부처님의 전당으로 인도하리라
Trong chiều sâu tâm thức của người Việt, từ ngàn đời nay,
hai chữ "Phước Đức" vẫn luôn được nâng niu như một thứ báu vật gia
truyền không hình, không tướng nhưng lại có sức mạnh xoay chuyển cả một kiếp
nhân sinh. Người Việt mình thường bảo nhau rằng "có đức mặc sức mà
ăn," một lời răn dạy giản dị nhưng ẩn chứa triết lý sâu xa của nhà Phật rằng
phước không nằm ở của cải, mà ở nơi tâm biết quay về thiện nghiệp. Cũng giống
như phù sa lặng lẽ bồi đắp cho những dải cù lao xanh ngát, phước báu không đến
từ việc tích trữ bạc vàng hay lợi danh phù phiếm, mà nó kết tinh từ những rung
cảm chân thành nhất khi ta biết sống vì người khác, biết quay đầu về với những
giá trị thiện lương sau những va vấp của cuộc đời.
Hãy thử nhìn vào hình ảnh của những ngôi chùa cổ kính ẩn
mình dưới tán đa, tán mít ở những làng quê Việt Nam, nơi tiếng chuông chùa
thanh thản ngân vang giữa buổi chiều tà. Khi một cơn bão đi qua cuốn trôi mùa
màng, đổ nát nhà cửa, người ta mới thấy hết giá trị của một tâm hồn tĩnh lặng,
bởi khi mất đi tất cả hãy giữ tâm không loạn, và chính trong khoảnh khắc tuyệt
vọng nhất ấy, nếu ta vẫn có thể khởi nghiệp thiện lành bằng một sự sẻ chia bát
cơm, manh áo cho người khốn khó hơn mình, thì đó là lúc ta đang gieo mầm cho một
sự hồi sinh kỳ diệu. Ví như đóa sen thanh cao nảy mầm từ bùn đen, người biết
dùng trí tuệ quán chiếu thì dù giữa khổ đau cũng thấy được ánh sáng giải thoát,
bởi họ hiểu rằng mọi nghịch cảnh chỉ là những bài học để rèn giũa viên ngọc tâm
hồn thêm phần sáng rỡ và trong trẻo.
Sự tu tập trong văn hóa Việt không phải là điều gì đó xa rời
thế tục, mà nó nằm ngay trong từng hơi thở sám hối và sửa mình hằng ngày. Khi đối
diện với những lỗi lầm đã vô tình hay hữu ý gây ra trong dòng sông luân hồi dài
dằng dặc, một người hành giả chân chính sẽ tự nhủ lòng rằng tội chướng nhiều đời
xin sám hối, nguyện trừ nghiệp chướng được thanh lương. Lời nguyện ấy như một
dòng suối mát lành gột rửa đi bụi bặm của tham sân cùng si ái, để rồi sau những
cơn mê lầm, tâm tình ta trở nên tĩnh lặng và sáng soi như nguyệt giữa đêm
sương. Ánh trăng ấy không rực rỡ như mặt trời nhưng lại đủ sức len lỏi qua từng
kẽ lá, tỏa sáng giữa màn đêm của vô minh, nhắc nhở ta rằng chỉ cần một niệm hồi
tâm là có thể lìa xa khổ ải, để ngàn đời sau vẫn vững bước hướng đạo thoát mê
trường.
Hành trình ấy là một sự trở về đầy tôn nghiêm dưới bóng mát
của đức tin, nơi ta nguyện nương tam bảo tu hành mãi để tìm lại bản ngã chân thật
của mình. Và khi lòng ta đã thực sự bình yên, tình thương ấy sẽ không còn hạn hẹp
trong cái tôi nhỏ bé mà mở rộng ra như lòng mẹ đại dương, sẵn lòng độ khắp quần
sinh tới phật đường. Đó không chỉ là một bài kệ, mà là một lời thề nguyền
thiêng liêng, là sự hòa quyện giữa đạo và đời, nơi mỗi người Việt chúng ta tìm
thấy ánh sáng hy vọng để đi qua những thăng trầm, giữ cho tâm mình luôn là một
đài sen ngát hương giữa thế gian đầy biến động.

Nhận xét
Đăng nhận xét